Thảm sát trên đảo Trường Sa :Chuyện chưa bao giờ kể.
![]()
Nguyễn Nhân Chứng - Tâm Thức Việt Nam

Số phận của ghe vượt vượt biên đi tìm đời sống tự do, dân chủ, hạnh phúc, ấm no.
Câu
chuyện sau đây được viết ra để
tưởng niệm hơn 130 đồng bào
trên “ghe ông Cộ” trên đường
vượt biển tìm tự do đã bị
Việt cộng tàn sát dã man vàotháng Tư năm 1979 ở đảo Trường
Sa, và cũng để gửi đến
các con yêu quý của ba: Chí Dũng,
Đông Nghi, Tì Tì.
Trước
khi vào chuyện:
Thời gian gần đây,
dư luận đồng bào trong và ngoài
nước vô cùng phẫn nộ trước
nguồn tin Trung cộng đã xả súng
bắn vào ngư dân Việt Nam đang
săn bắt hải sản chung quanh khu vực đảo
Trường Sa thuộc lãnh hải Việt
Nam, gây thiệt hại về nhân mạng
cũng như tài sản cho ngư dân Việt
Nam, Đây không phải là lần thứ
nhất Trung cộng xả súng bắn vào
ngư dân Việt Nam. Cách đây vài
năm, Trung cộng cũng đã xả súng
bắn vào ngư thuyền Việt Nam khiến
cho 8 người bị chết và nhiều khác
bị thương, sau đó Trung cộng còn
ngang nhiên bắt giam nhiều ngư thuyền và
ngư dân Việt Nam một cách trái
phép vô cùng ngang ngược, bất
chấp công pháp quốc tế về luật
hàng hải. Đây là hai vụ điển
hình nhất mà dư luận quốc tế
có đưa tin và đề cập đến.
Dĩ nhiên, là còn có nhiều vụ
khác đã xảy ranhưng không
có người biết đến. Điều
đáng để nói là: nhà cầm
quyền Việt cộng đã
không có lấy một hành động
đáng kể nào được xem là
để bảo vệ công dân của
mình trước các hành động
man rợ của Trung cộng. Thái độ
nhu nhược và bất lực của
Việt cộng trước
việc Trung cộng bắn giết bừa bãi
dân lành đã bị đồng bào
nguyền rủa.
Nhưng đâu có ai biết được một câu chuyện đã xảy ra cách đây 28 năm về trước, cũng tại quần đảo Trường Sa này. Một cuộc tàn sát man rợ khác đã diễn ra, máu đào loang thắm cả một vùng biển, xác người trôi vất vưởng làm mồi cho muôn loài cá. Cuộc thảm sát man rợ này đã diễn ra do chính bộ đội Việt cộng, lực lượng trú đóng trên đảo Trường Sa ra tay thực hiện. Và..... nạn nhân là hơn 130 đồng bào vượt biển tìm tự do trên một con thuyền xuất phát từ thành phố Nha Trang. Trung cộng là giống dân ngoại chủng luôn luôn có ý đồ xâm chiếm Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Trung cộng bắn giết ngư dân Việt Nam cũng do bản chất xâm lăng, đồng thời muốn chứng tỏ thế nước lớn của mình đối với Việt Nam. Thế nhưng, bộ đội Việt cộng xả súng hàng loạt bắn thẳng vào chính những người cùng một dòng máu, cùng một màu da, cùng một ngôn ngữ, mà họ gọi là đồng bào, chỉ vì những đồng bào này đã bỏ nước ra đi vì không chấp nhận một chế độ độc tài cộng sản. Hành động này của bộ đội Việt cộng đã vượt qua mức tưởng tượng bình thường của con người. Hành vi tội ác này của chúng nó, ngày nay đã được đảng cộng sản xóa bỏ để trở thành quá khứ, và những người sống sót trên con tàu oan nghiệt đó trở thành những khúc ruột xa ngàn dậm theo chủ trương của đảng, cho dù những người này không và sẽ không bao giờ quên dược cái đêm kinh hoàng của tháng 4 năm 1979 của 28 năm về trước. Bộ máy tuyên truyền của đảng Vc giờ đây đang cùng với những cá nhân, đảng phái đón giótrở cờ đang cùng nhau diễn xuất kịch bản “xoá bỏ hận thù, hướng tới tương lai ” Người sĩ quan bộ đội cộng sản, người đã trực tiếp ra lịnh thẳng tay tàn sát đồng bào vô tội trên đảo Trường Sa 28 năm về trước, nếu còn sống, có lẽ giờ đây đã biến thành một tay tư bản đỏ giàu sang, và đang ngồi ở vị trí Ủy viên Trung ương đảng cộng sản Việt Nam.
Tác
giả câu chuyện này xin được
viết ra đây câu chuyện của 28 năm
về trước, như một nén hương
lòng thắp muộn để tưởng nhớ
đến hơn 130 đồng bào trên “
ghe ông Cộ ” những người bạn
đồng hành của tác giả đã
bất hạnh gục ngã trước những
họng súng oan nghiệt của những tên
Việt cộng cuồng sát. Những người
còn may mắn sống sót sau cuộc thảm
sát trên, nếu có dịp được
đọc những dòng chữ này xin hãy
cùng nhau dành một phút để cầu
nguyện cho những bạn đồng hành
xấu số của chúng ta. Những kẻ
theo cộng sản là những kẻ cuồng
tín, cuồng sát. Cho nên chúng
mới xả súng bắn những người
chạy đi, dù là đàn bà
hay con trẻ, trong tay không tấc sắt.
Dù chúng đổi tên, thay áo bộ
đội, vất nón cối, bỏ dép
râu....
Nguyễn Nhân
Chứng.
Chúa ơi
cứu con với !
Tiếng thét đau
thương, hãi hùng của người
phụ nữ nằm sát cạnh tôi,
cùng lúc với một dòng nước
ấm văng vào mặt đã khiến
cho tôi phải lấy tay vuốt mặt mình
và bàng hoàng nhận ra toàn là
máu, máu nóng đã ập
vào mặt tôi từ người phụ
nữ bên cạnh. Tôi ngẩng cao đầu
lên một chút để nhìn sang bên
cạnh, người phụ nữ đang oằn
oại với vết thương một bên
đùi vỡ toác do đạn xuyên
phá, máu tuôn xối xả. Tôi
xót xa nhìn người phụ nữ đang
lăn lộn vì đau đớn, nhưng
cũng đành bất lực không cứu
giúp gì được, vì ngay bản
thân tôi cũng đang nằm bẹp dí
xuống sàn tàu để tránh đạn.
Đạn vẫn tiếp tục nổ, tiếng
rên xiết, la hét, kêu gào,
của những người bị trúng đạn
quyện vào nhau tạo thành một thứ
âm thanh hỗn loạn đến rợn
người, âm thanh giữa biên giới
của sự sống và cái chết chỉ
diễn ra trong một cái nháy mắt, mới
còn nghe rên la đó.... một loạt
đạn tiếp theo đã ghim chặt
vào thân người, lập tức tiếng
rên la im bặt, một con người đã
vĩnh viễn ra đi, những người khác
tiếp tục rên la, chờ đợi loạt
đạn tiếp theo cướp lấy mạng
sống của mình. Tôi tự nhủ thầm,
muốn sống còn phải rời bỏ con
tàu ngay lập tức. Tôi vùng dậy,
và nhận ra con tàu đang chìm dần
từ phía sau của thân tàu, phía
trước của con tàu đã bị đạn
pháo bắn gãy, đang chổng lên
trời. Trước mặt tôi, chung quanh
tôi, máu thịt văng tung tóe,
thây người nằm la liệt, một
cảnh tượng hãi hùng mà tôi
chưa từng chứng kiến. Thần kinh tôi
tê cứng vì sợ hãi khiến
tôi muốn khụy xuống, nhưng bản
năng sống còn của con người trong
tôi bừng sống dậy, tôi lao mình
ra khỏi con tàu phóng xuống biển vừa
lúc một cơn sóng biển chụp tới
cuốn tôi rời xa con tàu. Thật là
may mắn, tôi vừa rời xa con tàu thì
dường như cùng một lúc, một
trái đạn pháo kích rớt chính
xác ngay giữa con tàu khiến con tàu
gãy đôi và chìm xuống
biển, mang theo toàn bộ số người
có mặt trên tàu lên tới trên
130 người.
Trên mặt biển bây giờ đã không còn thấy bóng dáng con tàu đâu nữa, thay vào đó là những vật dụng bể nát của con tàu, những tấm ván bể nổi trôi lềnh bềnh trên sóng nước. Xác người chết ! xác người chết trôi nổi quanh tôi, phụ nữ, đàn ông, con nít, già có, trẻ có. Tất cả, không một ai còn được toàn vẹn thân thể, không một ai còn sống cả..... Có lẽ tôi là người sống sót duy nhất còn lại của con tàu, ngoài tôi ra thì chỉ còn lại toàn rặt là xác của người chết. Máu, là máu, từng vệt loang dài chảy ra từ vết thương của những xác chết, theo dòng nước trôi quanh tôi. Thủy triều đang lên, tôi rùng mình nghĩ đến đàn cá mập đói đang lẩn quẩn quanh đây chờ thủy triều lên cao sẽ theo mùi máu mà kéo đến, thì cho dù tôi có còn sống thì vẫn phải làm mồi cho đàn cá mập như những xác chết kia mà thôi! Tôi vươn tay cố gắng chụp lấy một mảnh ván để bám vào, tôi bám chặt vào mãnh ván, nhắm mắt lại cầu nguyện, dọn mình chờ chết, và trong cái khoảnh khắc tuyệt vọng đó tôi đã nghĩ đến gia đình, nghĩ đến những người thân thương ruột thịt, đã không biết được rằng tôi đã bỏ thây giữa biển cả và làm mồi cho cá mập. Vĩnh biệt tất cả.
……………………………o0o……………………….
Câu chuyện bắt đầu: Chuẩn bị ra đi tìm tự do, dân chủ, hạnh phúc, ấm no
3
giờ sáng thành phố Nha Trang vẫn còn
chìm trong giấc ngủ, hàng trụ điện
bên đường Nguyễn Thái Học
tỏa ánh sáng mờ mờ, soi bóng
tôi trên đường. Vai mang cái phao
(loại ruột xe hơi được bơm căng
lên) giả làm dân đi tắm biển
sớm (đối với người dân
Nha Trang thì việc có người đi
tắm biển vào lúc 3- 4 giờ sáng
là chuyện thường) tôi rảo bước
thật nhanh hướng về phía biển cho
kịp giờ hẹn. Xuống tới bãi cát,
tôi đưa mắt nhìn quanh dò xét
địa thế, bãi biển vắng lặng
không một bóng người, tôi yên
tâm cởi bỏ áo ra chỉ mặc chiếc
quần cụt, giả vờ làm vài động
tác thể dục trước khi bước
xuống nước. Từ xa, về phía biển
có ánh sáng mù mờ của một
chiếc thuyền câu đang tiến vào
bờ, tôi lại đảo mắt nhìn
quanh kiểm soát lần cuối trước
khi rời bãi cát. Bước xuống
nước, tôi nhoài người bơi
nhanh về hướng chiếc thuyền câu,
trả lời đúng mật mã, một
bàn tay vươn ra kéo tôi lên chiếc
thuyền. Thuyền lướt nhẹ trên mặt
biển hướng về “Hòn Tre”
cá nhân tôi thì phải nằm sát
xuống khoang thuyền không được ngồi
dậy cho đến khi tới chỗ ẩn nấp
ngoài đảo Hòn Tre.
Hòn Tre là
một hòn đảo lớn, nằm cách
bờ biển và hải cảng Nha Trang khoảng
chừng 6 cây số, cư dân trên đảo
này rất ít chỉ chừng vài chục
gia đình, hầu hết đều sinh sống
bằng nghề chài lưới. Nơi đây
cũng là nơi ẩn nấp của các
tàu thuyền và ngư dân mỗi khi
gặp gió bão. Con thuyền chạy được
chừng hơn tiếng đồng hồ thì
tới một cửa động nằm khuất
sâu vào phía trong trên đảo Hòn
Tre, rất khó mà tìm thấy nếu
không quen thuộc được địa hình
nơi đây. Từ phía ngoài nhìn
vào, tôi chỉ nhìn thấy một màu
tối đen, bằng ánh sáng của cái
đèn (pin) do người ngồi trước
mũi soi sáng, chiếc thuyền câu từ
từ lướt nhẹ vào động. Tôi
được bỏ xuống đây để
ẩn trốn chờ đêm đến sẽ
ra “ tàu lớn ”. Một tốp 5 người
đàn ông chạy ra đón tôi, ai
nấy đều trần như nhộng, không
mặc một thứ gì trên người
( sau này thì tôi cũng như họ vì
không khí trong động rất oi bức
khó chịu ) họ là những người
đã đến trước tôi từ đêm
hôm trước, cũng để chờ để
ra tàu lớn. Trời đã sáng tỏ,
nhưng từ phía bên trong động,
chúng tôi nhìn ra bên ngoài cũng
chỉ nhìn thấy được một vệt
ánh sáng rất mờ, yếu ớt chiếu
sáng vào trong động. Lúc này
trong động chúng tôi cũng đã
lờ mờ nhìn thấy được nhau,
thật là một cảnh tượng sống
động có một không hai mà trong
cuộc đời của tôi đã được
tận mắt nhìn thấy, 5 ông Adam của
thời kỳ hồng hoang, ăn lông ở lỗ,
trên người không một mảnh vải
che thân, đang đứng giữa một
thạch động thiên nhiên thì thào
to nhỏ với nhau, vì cứ sợ bên
ngoài nghe được. Nhưng thật ra thì
có hét to lên cũng chẳng có ai
người ta nghe thấy. Không khí trong
động đã bắt đầu oi bức
dần lên, tôi cũng phải lột bỏ
cái quần cụt mang trên người để
trở thành người tiền sử như
những người khác. Qua câu chuyện,
tôi được biết nơi đây là
nơi cất giấu dầu chạy máy
dùng cho chuyến vượt biển, mỗi
ngày một ít số dầu tồn trữ
được tăng dần lên theo với
thời gian, và đây là giai đoạn
chót cho nên 5 người họ đã
ở lại luôn trong thạch động, chờ
tối nay thì sẽ chuyển sang tàu lớn.
Tôi được chia cho một ít cơm
với muối mè đã được
vắt cục lại với nhau để đỡ
đói chờ đêm đến ra tàu
lớn, nằm ngả lưng trên mặt đá
lởm chởm, tôi liên tưởng đến
chuyến vượt biển đêm nay và
cầu nguyện ơn trên cho mọi việc
được thông suốt, nghĩ đến
gia đình, nghĩ đến tương lai
không biết rồi sẽ đi về đâu,
tôi bồi hồi tấc dạ. Đêm đến,
ánh đèn pin từ cửa động
chiếu ánh sáng vào, cùng với
tiếng người nói chuyện với nhau.
Rõ ràng là không phải những
người trong ban tổ chức, mọi người
nín thở chờ đợi, mọi người
đều nằm ép sát mình xuống
mặt đá, không dám cử động
mạnh, cũng may là từ phía ngoài
nhìn vào thì chỉ thấy một màu
tối đen, nên chúng tôi đã
không bị phát giác. Thời gian chờ
đợi tưởng chừng như vô tận,
sau cùng thì nhóm người đó
cũng bỏ đi, chúng tôi thở ra nhẹ
nhõm. Một anh trong nhóm chúng tôi
cho biết, đó là những người
đi “soi mực” ban đêm và
anh đoan chắc rằng họ chỉ vô tình
đi lạc vào đây mà thôi. Vào
khoảng giữa đêm thì chiếc thuyền
câu liên lạc đã trở lại
thông báo cho biết là: tối nay không
thể khởi hành được vì có
sự trục trặc do lý do an ninh. Mọi
người lộ vẻ thất vọng, nhưng
cũng đành phải nhận lấy phần
lương thực cho ngày mai và tiếp
tục chờ đợi. Thời gian chờ đợi
trong thạch động dường như dài
vô tận, chúng tôi chỉ có
việc ăn xong rồi nằm hoặc đi lại
cho giãn gân cốt, trò chuyện thì
hạn chế tối đa vì lo sợ bị
phát giác. Một ngày một đêm
đã trôi qua, mọi người nôn
nóng chờ tin từ con thuyền liên lạc,
bóng đêm lại phủ đầy bên
ngoài cửa động, con thuyền liên
lạc đã trở lại và tiếp tục
báo tin buồn vẫn chưa thể khởi
hành được, chúng tôi nóng
ruột thấy rõ, người đưa tin
thì chỉ làm nhiệm vụ đưa
tin và chuyển lương thực cho chúng
tôi xong thì rút lui. Đêm thứ
ba, bóng con thuyền đưa tin đã trở
lại, lần này có vẻ hối hả
hơn hai đêm trước, theo sau nó là
ba chiếc thuyền câu khác nối đuôi
nhau tiến vào thạch động, tôi
đoán là giờ khởi hành đã
tới. Quả đúng như tôi dự
đoán, chúng tôi được lịnh
“bốc” toàn bộ số dầu chạy
máy lên bốn chiếc thuyền câu
cùng với mọi người rời thạch
động ra tàu lớn. Giây phút quan
trọng đã đến, chúng tôi lần
lượt chuyển hết số dầu lên
thuyền, còn chúng tôi thì nằm
sát xuống thuyền bên trên được
phủ một tấm nylon để che kín. Bốn
chiếc thuyền câu theo hàng dọc lặng
lẽ rời thạch động hướng về
tàu lớn. Khoảng nửa giờ sau, chúng
tôi đã cập được sát
tàu lớn đang bỏ neo chờ chúng
tôi.
“Tàu
lớn” là một chiếc ghe đi biển
của ngư dân, dài khoảng 15 thước,
rộng chừng 3 thước, mà dân
trong nghề đi biển gọi là “3 lốc
đầu bạc”, dầu được
chuyển cấp tốc và nhanh chóng lên
tàu lớn, chúng tôi cũng đã
lần lượt leo lên tàu lớn. Tàu
nhổ neo, chạy ở vận tốc bình
thường như là một chiếc tàu
đánh cá bình thường khác
đang hoạt động quanh đó. Tôi
leo lên mui tàu tìm chỗ ngồi, tôi
đã giật mình kinh ngạc khi nhìn
thấy toàn bộ số người có
mặt trên tàu. Đông quá!
Chỗ nào cũng có người ngồi
chen chúc, nhưng rồi tôi cũng không
lấy làm quan tâm cho lắm, miễn sao con
tàu cứ tiếp tục hướng mũi ra
khơi hướng về Philippines. “Tháng
ba bà già đi biển” câu thành
ngữ của những người hành nghề
đánh cá, rất đúng trong trường
hợp của chuyến vượt biển đêm
nay. Mặt biển phẳng như gương, bầu
trời trong vắt với muôn vì sao lấp
lánh. Sau khi đã bỏ xa khu vực đánh
cá trong vùng, con tàu mở hết tốc
lực hướng mũi ra khơi. Mặt trời
đã ló dạng từ phía chân
trời, trời đã dần sáng tỏ,
từ trên mui tàu tôi có dịp quan
sát rõ hơn toàn bộ khung cảnh
trên tàu, điều khủng khiếp đập
vào mắt tôi đầu tiên là
mặt nước biển chỉ cách bẹ
tàu có chừng non 1 thước, chứng
tỏ con tàu đang bị khẳm vì
chở quá nặng, con tàu như đang
oằn mình trườn tới phía trước
với sức nặng vượt quá mức
cho phép. Trên khoang tàu la liệt là
người, trước mũi, sau khoang, chỗ
nào cũng có người. Nắng đã
lên cao, tuy mới sáng sớm nhưng nắng
giữa đại dương đã mang lại
cái nóng khó chịu trong người
rồi, vài người đã cởi áo
ra cũng như tận dụng hết tất cả
những gì khả dĩ có thể che nắng
được để tránh cái nắng
đã bắt đầu gay gắt. Chỗ duy
nhất có thể tránh nắng được
là cabin tàu đã được dành
riêng cho gia đình chủ tàu, các
hầm tàu bình thường dùng để
làm nơi chứa cá sau khi thu hoạch
được, đã được gỡ
bốc nắp hầm đi dùng làm nơi
tránh nắng, nhưng có lẽ dưới
hầm tàu không khí quá ngột
ngạt oi bức nên cứ chốc chốc
lại có người trồi lên để
hứng lấy khoảng không khí trống
trải trên tàu, có người leo lên
khỏi miệng hầm thì cũng có người
lại chui xuống dưới hầm tàu, cái
quy trình “cắc cớ” này cứ
thế mà tiếp diễn trong suốt cuộc
di hành. Vài tiếng khóc của trẻ
em đã nổi lên vì khát
nước, chủ tàu ra lịnh cung cấp
nước uống cho mọi người, người
lớn thì được ba nắp “ bi
đong “, con nít được gấp đôi
trong ngày đầu tiên, cứ cách
khoảng chừng 1 giờ đồng hồ thì
lại cấp tiếp cho con nít, người
lớn thì phải chịu nhịn lâu hơn.
Vì ngồi trên mui cabin nên tôi đã
nói chuyện được với gia đình
chủ tàu, theo như họ cho biết thì
chuyến đi đã bị gặp khó
khăn do địa điểm bị tiết lộ
ra bên ngoài bởi những người
chung vàng cho chuyến đi, do đó thân
nhân của những người này đã
“canh me” rất sát chuyến đi.
Đó cũng là lý do khiến chúng
tôi phải chờ đợi trong thạch động
hết hai ngày đêm, đêm thứ ba
chủ tàu quyết định phải ra đi
bằng mọi giá trước khi việc đổ
bể. Tàu cập sát bờ biển nơi
“kho gạo” để bốc người,
số người dự trù chính thức
là gần 60 người. Không ngờ,
khi tàu cập vào bờ thì người
ở mọi ngõ ngách túa ra leo lên
tàu, và vì không muốn bị lộ
nên chủ tàu đành phải chở
hết số khách không có trong danh
sách, sau khi kiểm soát lại thì
được biết là con số người
đã lên đến hơn 130 người.
Trời đã vào chiều, gió
thổi lạnh, một đàn cá heo
“dolphin” bơi cập theo hông tàu
trông rất đẹp mắt, mặt trời
đỏ ối đang từ từ lặn xuống
chân trời, bóng tối bắt đầu
phủ xuống, con trăng thượng tuần
treo lơ lửng trên đầu, bóng con
tàu trông thật côđơngiữa biển cả mênh mông, con
người đã trở nên vô cùng
nhỏ bé trước thiên nhiên, đâu
đó văng vẳng tiếng cầu nguyện,
lúc đầu nhỏ, sau to dần lên, và
không hẹn hầu như mọi người
trên tàu đều cầu nguyện theo tôn
giáo mình. Biển hoàn toàn vắng
lặng, không có bóng một con tàu
nào qua lại, không gian là một màu
đen che phủ đến lạnh người,
con tàu vẫn lầm lũi lướt tới,
tôi được anh tài công người
của chủ tàu đưa cho một “
tấm bạt ” loang đầy dầu mỡ
để che lạnh, tôi cùng vài người
khác quây quần phía bên trong tấm
bạt cho bớt lạnh. Một ngày một
đêm đã trôi qua trong an bình,
mọi người thầm cảm tạ ơn trên
đã che chở cho con tàu. Ngày thứ
hai, nắng dường như gay gắt hơn,
nắng như đổ lửa xuống những
tấm thân đã rộp lên vì bị
phỏng nắng, tiếng con nít khóc
vang trời. Nước ! Nước đã
trở thành một thứ quan yếu bật
nhất trên tàu, chủ tàu đã
cử bốn thanh niên lực lưỡng đứng
canh gác khu vực để nước. con
nít được ưu tiên tăng
lượng nước uống lên từ 6 nắp
lên 8 nắp, nhưng người lớn thì
bị giảm xuống chỉ còn có một
nắp mà thôi.
Ngày qua đi, đêm lại xuống, tiếng kinh cầu lại vang lên, thỉnh thoảng lại có tiếng nôn oẹ vang lên, đoàn lữ hành nằm dã dượi trân mình hứng chịu khí hậu lạnh lẽo của đại dương về đêm. Ngày hứng chịu cái nắng khủng khiếp, đêm về lại phải đón nhận cái lạnh, chỉ mới có hai ngày mà những con người khốn khổ đã teo hóp lại, sức đề kháng dường như đã không còn nữa. Ngày thứ hai cũng trôi qua bình an, nhưng đoàn người thì đã hoàn toàn đuối sức, ai nằm chỗ đó, phó mặc cho con tàu muốn đưa mình đi tới đâu thì đi. Trưa ngày thứ ba thì sóng gió đã nổi lên, mặt biển đã không còn phẳng lặng nữa, gió đã nổi lên kéo mạnh từng cơn, bầu trời vần vũ, mây đen kéo về đen kịt, từ xa từng ngọn sóng bạc đầu đang kéo tới. Sóng to, gió mạnh, khiến con tàu chao đảo liên tục, từng cơn sóng cao vời bốc con tàu lên cao, nhìn xuống dưới là một hố sâu thẳm đến rợn người. Tôi cùng những người khác trên mui phải leo xuống khoang tàu, vì quá nguy hiểm nếu cứ tiếp tục ở lại trên mui tàu. Đang ở giữa trưa mà tôi cứ ngỡ rằng là đang lúc chiều tối vì bầu trời tối đen, chủ tàu trấn an mọi người rằng: ”Đây là chuyện thường thôi, chỉ là “gió Nam”, gió Nam thì mấy người làm nghề biển coi như cơm bữa.” Hư thật ra sao không biết, nhưng mọi người đã quá hoảng sợ và trở nên nhốn nháo, khiến con tàu đã bị sóng nhồi chao đảo lại thêm tròng trành như muốn lật úp. Chủ tàu phải hét lớn ra lịnh, không được nhốn nháo, nếu không muốn tàu bị lật thì ai ở đâu ngồi đó. Con tàu chuyển mình kêu răng rắc như muốn vỡ ra từng mảnh nhỏ, khiến mọi người đang lúc hoảng sợ càng thêm hoảng sợ, tiếng than khóc, tiếng gọi nhau vang lên thảm thiết, người ta dồn cục vào với nhau như để tìm sự che chở cho nhau. Mưa đã bắt đầu trút xuống, ngày càng nặng hột hơn, mưa giăng trắng xóa cả một khoảng không gian rộng lớn giữa đại dương, con tàu vẫn trồi lên hụp xuống tưởng chừng như muốn hất văng những thuyền nhân xuống biển. Con tàu đã phải chuyển hướng, không thể nào đi theo hướng đã định mà phải cập theo sóng để tránh cho tàu khỏi bị lật úp, người tài công chính của tàu, người nắm giữ sinh mạng của hơn 130 thuyền nhân, giờ đây đang gồng mình ôm chặt bánh lái với sự giúp sức của hai người khác để giữ cho con tàu khỏi bị lật, giữ cho con tàu khỏi bị lật đã là một việc vô cùng khó khăn lắm rồi, việc nhận rõ phương hướng đã không còn được đặt ra nữa. Con tàu đã thật sự lạc mất phương hướng, mặc cho sóng gió đưa đẩy, mọi người chỉ còn biết cầu nguyện và phó mặc số mệnh vào sự may rủi mà thôi. Cơn bão vẫn tiếp tục quần thảo từ trưa đến tối, nhồi con thuyền xoay vòng giữa cơn bão dữ, những người trên tàu giờ đây đa số đã phải chui vào hầm tàu để tránh khỏi bị hất văng xuống biển. Đến tối thì cơn bão chấm dứt, mọi người ngoi ngóp bò dậy, may mắn thay suốt cơn bão dữ mọi người vẫn được bình an dù đã phải trải qua một ngày kinh hoàng khiến ai nấy không còn lòng dạ nào nghĩ đến việc tiếp tục di hành thêm nữa. Có ánh đèn ! Có ánh đèn ! Một người la to, rồi nhiều người khác cùng la, cứ tưởng như là mơ. Nhưng quả thật, từ hướng bên phải của con tàu có ánh đèn leo lét khi ẩn khi hiện do sự trồi lên hụp xuống của con tàu. Tài công hướng mũi con tàu chạy thẳng vào nơi có ánh đèn, trông thì gần, nhưng thật ra thì tàu phải chạy gần hai giờ đồng hồ mới đến được. Càng đến gần thì mọi người nhận ra đó là một hòn đảo, đảo nhưng có ánh đèn, nghĩa là có người sinh sống trên đảo. Mọi người mừng rỡ quỳ tạ ơn trên đã dẫn dắt con tàu đến nơi bình an. Con tàu đang ngon trớn, bỗng nghe đánh..... ầm một tiếng lớn, tiếng máy tàu gầm rú liên hồi, anh tài công la lớn “Ghe mắc rạng”, anh tài công cố gắng bằng mọi cách để xoay chuyển con tàu nhưng đành bó tay đứng nhìn, nhìn mũi tàu ghếch cao ở phía trước, tôi đoán là con tàu đã “cưỡi” lên đángầm rồi. Từng đợt sóng mạnh mẽ đánh vào mạng tàu như muốn phá vỡ con tàu ra làm trăm mảnh. Nhìn vào phía trong đảo, thấy không còn xa lắm, từ chỗ con tàu gặp nạn vào đất liền khoảng chừng vài trăm thước. Phải rời tàu đi tìm phương tiện cấp cứu thôi, có người lên tiếng đề nghị. Thế là một số trai tráng khỏang chừng 20 người trong đó có tôi, tình nguyện rời tàu đi vào đảo tìm phương tiện cấp cứu, chúng tôi được quấn dây thừng thật chặt rồi lần theo đó mà vào chỗ nông hơn để đi vào bờ, thật may mắn là vào lúc đó thủy triều đang rút xuống cho nên chúng tôi có thể đi bộ vào đảo được, dưới chân tôi là muôn ngàn những con cầu gai cùng với các loại vỏ nghêu, vỏ ốc, mà tôi đã phải giẫm lên khiến cho lòng đôi bàn chân bị cắt đứt ngang dọc, khiến đau rát buốt óc. Chúng tôi lần mò, nối đuôi nhau tiến vào đảo, đặt chân được lên bãi cát trên đảo, chúng tôi nằm nhoài ra nghỉ lấy sức. Hồi tưởng lại cơn bão vừa qua, tôi vẫn còn hãi hùng và thầm cám ơn ơn trên đã che chở, bằng không có lẽ giờ này chúng tôi đã vùi thây giữa lòng biển cả rồi. Lấy lại được sức, đoàn người tiếp tục bước sâu vào trong đảo, riêng tôi thì còn quá mệt nên cũng chẳng vội vã bước theo họ. Vì lý do đó, cho nên tôi trở thành người cuối cùng ở sau chót của đoàn người. Bất ngờ, hàng loạt đèn pha từ phía trong đảo bật sáng chiếu thẳng vào chúng tôi. Có tiếng hô to..... ai đó, đứng lại, vào đây làm gì? Lúc đầu chúng tôi nghe không rõ vì gió biển thổi cùng với tiếng sóng, hơn nữa họ lại nói tiếng Việt phát âm giọng Bắc khiến chúng tôi ngỡ là một thứ tiếng ngoại quốc, có thể là tiếng Phi. Chúng tôi đã vô cùng mừng rỡ vì biết được mình đã tới nơi chốn mà mình muốn. Chúng tôi vừa đưa cả hai tay lên trời, vừa làm dấu cho họ biết rằng chúng tôi đến đây là do thiện chí và cứ thế tiếp tục bước tới. Nhưng càng đến gần thì chúng tôi nhận ra rõ ràng là tiếng Việt chứ không phải là tiếng ngoại quốc. Có tiếng hô qua loa phóng thanh. Tất cả đứng lại..... nếu không sẽ bị bắn bỏ. Trời ạ...... chúng tôi đã lạc vào đảo của Việt Nam rồi! Chúng tôi lập tức đứng lại, hai tay vẫn đưa thẳng khỏi đầu, chúng tôi hội ý với nhau là: để qua mặt được họ, chúng tôi phải nói rằng tàu vượt biên do nhà nước tổ chức ra đi. Khi nói như vậy, chúng tôi ngầm hai ngụ ý: Thứ nhất, khi biết là chúng tôi ra đi do nhà nước tổ chức thì họ sẽ tìm phương tiện giúp chúng tôi. Thứ hai, nếu không giúp được gì thì họ cũng sẽ không làm khó dễ chúng tôi, trường hợp tệ lắm là họ sẽ bắt trở về đất liền để đi tù, trong trường hợp này thì mọi người sẽ an toàn hơn cả. Giọng nói kia tiếp tục vang lên: Tất cả đứng yên tại chỗ đợi lịnh......Thời gian lặng lẽ trôi qua trong ngột ngạt. Khoảng chừng hơn 10 phút, thì đột nhiên từ phía bờ cát một loạt lửa da cam tóe lên cùng lúc với những tràng súng liên thanh nổ rền trời, tôi giật mình ngó về phía đoàn người. Tôi như bị hoa mắt vì thấy máu từ các thây người phun ra khắp nơi, thây người đổ ập xuống, tiếng rên la thảm thiết vang lên như muốn xé tan màn đêm. Việt cộng giết người..... nghĩ thế xong là tôi vội vàng bò hết tốc lực để tránh ra xa khỏi đoàn người và đứng lên vùng chạy về phía biển, vài người khác trong đoàn người cũng cố gắng mang thương tích vùng chạy ngược trở ra biển, một số chỉ chạy được nửa chừng rồi thì ngã xuống nằm lại luôn. Bằng tất cả sức lực còn lại trong người, tôi chạy thẳng và nhào người ra biển, giẫm lên cầu gai, võ nghêu, võ ốc mà chạy càng xa, càng tốt, trong tôi bây giờ không còn có cảm giác đau đớn do bị cầu gai đâm thủng chân nữa, tôi hoàn toàn ở trong trạng thái vô cảm. Sau cùng thì tôi cùng vài người khác cũng đã chạy ra được nơi con tàu mắc cạn. Mọi diễn biến trên đảo đã được chúng tôi tường thuật lại, thực ra thì mọi người đã nghe được tiếng súng nổ tuy không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng cũng phần nào đoán ra được là đã có chuyện không lành. Khi nghe chúng tôi báo cáo lại mọi chuyện, mọi người đã vô cùng hoảng sợ. Tất cả đàn ông, trai tráng trên tàu, đều được huy động xuống để đẩy con tàu ra khỏi vùng đá ngầm. Trời đã phụ lòng người ! Sức của con người làm sao chống chọi lại với sức mạnh của thiên nhiên, chúng tôi cố đẩy được con tàu xê dịch đi một chút, thì lập tức các ngọn sóng lại đánh đẩy con tàu trở về vị trí cũ. Đang lúc tất cả đang cố gắng đẩy con tàu thì súng lại nổ vang rền, đạn bay như rải về phía con tàu. Có tiếng thét kinh hãi... có người trúng đạn... có người trúng đạn, tiếp theo là những tiếng khóc, tiếng kêu gào, khung cảnh rối loạn cả lên, mạnh ai người đó chạy tìm chỗ nấp, nhưng nấp vào đâu bây giờ, giữa trời nước bao la và con tàu khốn khổ đang phải hứng chịu những vết đạn từ những con người tàn bạo? Súng đã thôi nổ liên hồi, nhưng vẫn tiếp tục nổ cầm chừng, và thỉnh thoảng lại có người gào lên kêu cứu khi thân nhân mình trúng đạn. Phải ở vào hoàn cảnh trên thì mới có thể cảm nhận được hết cái không khí dã man, tàn bạo, đầy khủng bố mà không thể có ngòi bút nào lột tả được hết. Súng vẫn nổ lai rai, đoàn người vẫn cố gắng trong tuyệt vọng để đẩy con tàu. Nhưng bất lực! Hoàn toàn bất lực! Mọi người đã kiệt sức vìđói lạnh, da thịt mọi người đã thâm tím đi vì lạnh. Tất cả đều buông xuôi leo lại lên tàu phó mặc cho trời. Suốt đêm đạn vẫn nỗ, người tiếp tục chết vì đạn, tiếng kêu khóc vẫn cứ vang lên mỗi khi có người trúng đạn chết. Từ nơi xa xa, có thấp thoáng ánh đèn chiếu sáng từ một hòn đảo khác bên cạnh.
Trời sáng dần, tiếng kẻng buổi sáng phía trong đảo vang lên. Đoàn người tội nghiệp dõi mắt về hướng đảo trông chờ phép lạ. Trên đảo nhộn nhịp hẳn lên, bộ đội chạy tới chạy lui, gia đình thân nhân vợ con của bộ đội cũng chạy ra đứng nhìn con tàu nghiêng ngả. Đàn bà, con nít trên tàu được cho lên mui tàu hướng về trong đảo quỳ lạy xin được cứu giúp. Tiếng kêu khóc vang dội trời xanh, những con người Việt Nam khốn khổ đang quỳ lạy những con người Việt Nam khác ngừng tay bắn giết đồng bào mình. Lịch sử Việt Nam từ bao nhiêu ngàn năm nay chưa bao giờ có những trang sử ô nhục như thế này. Ô kìa.... phép lạ xảy ra, có bóng của những bàn tay vẫy phất như báo cho thuyền nhân biết là họ có thể vào bờ được rồi, những cái vẫy tay mời gọi từ phía trong đảo đã làm mọi người như sống lại. Ưu tiên cho đàn bà và con nít vào trước, dây thừng được lấy ra quấn chặt vào mình, cùng với sự giúp sức của vài thanh niên, sợi dây thừng dài được nối từ con tàu vào thân của những người xuống tàu lôi vào bờ. Đoàn người rời con tàu xa dần dần tiến vào bờ, dây thừng vẫn được quấn chặt vào người, cách bờ chừng 100 mét nhưng vẫn chưa thấy người từ trên bờ ra cứu giúp. Bỗng nhiên súng lại nổ. Trời ơi! súng nổ nhắm vào những người đang quấn chặt dây thừng ngang mình để vào bờ, thế là chỉ còn có chờ chết mà thôi, làm sao mà có thể chạy thoát được khi sợi dây oan nghiệt đang trói mọi người lại với nhau. Không một ai còn sống sót qua trò chơi man rợ của lũ người không tim trên đảo. Tiếng kêu gào thảm thiết lại vang lên của những người chồng, người cha, khi nhìn thấy cảnh vợ con mình bị bắn giết vô cùng man rợ như trên. Đàn bà con nít lại được đưa lên mui tàu chấp tay hướng vào đảo mà van lạy xin được buông tha, đáp ứng lại những lời van xin thảm thiết này là những tràng đạn lại nổ tiếp, bóng người đàn bà với tư thế hai tay chấp vào nhau vì đang quỳ lạy ngã chúi xuống biển từ trên mui tàu, cùng lúc với các em trẻ bật ngửa ra sau giẫy chết vì trúng đạn. Tàn bạo, man rợ, không thể nào tả hết.
Tàu
vướng đá ngầm rồi, phải rời
tàu thật nhanh.
Nắng
đã lên cao, từ trong đảo bóng
dáng bộ đội Việt cộng chạy
lại ụ súng được mọi người
trên tàu nhìn thấy rõ mồn một.
Tấm phông che súng được kéo
xuống, nòng súng được hạ
xuống. Trời ơi !..... Một cây
súng pháo với nòng súng dài
có đến 10 thước đang hiện
ra trước mắt mọi người trên
tàu. Kinh hãi…. hỗn loạn
trên tàu đã diễn ra, chỉ cần
một trái đạn pháo từ khẩu
súng đó mà trúng vào con tàu
thì tất cả chỉ còn là tro
bụi. Cầu nguyện, và dọn
mình chờ chết, vì sẽ không
còn ai sống sót sau khi trái đạn
được khai hỏa bắn trực xạ vào
một mục tiêu cố định là con
tàu. Nhưng không, tấm phông đã
được kéo lại che đậy khẩu
súng, nòng súng đã được
nâng lên cao, không còn ở vị
trí sẵn sàng nhả đạn nữa.
Bóng dáng bộ đội lại chạy
nhốn nháo, và họ đang lấp ráp
chân “ đế ” của cây
súng cối. Dã man, tàn bạo, bộ
đội cộng sản Việt Nam vì tiếc
một quả đạn súng pháo lớn,
nên đang thay vào đó là đạn
súng pháo nhỏ hơn, và đó
là trò chơi giết người của
họ.
Ầm.... quả đạn đầu
tiên được bắn ra rớt xuống
biển cách con tàu chừng vài thước,
mọi người chưa kịp hoàn hồn
thì. Ầm.... quả đạn thứ
hai rớt chính xác ngay mũi tàu, thịt
xương văng tung tóe, máu đổ
chan hoà, cùng lúc với hàng
loạt đạn lớn nhỏ vang rền khắp
nơi, tay chân, máu thịt, vung
vãi ở khắp mọi nơi trên tàu,
con người lăn lộn, vật vã
với vết thương, khung cảnh của địa
ngục trần gian đang phơi bày trước
mắt tôi. Sau tiếng thét đau thương,
hãi hùng của người phụ
nữ nằm bên cạnh tôi. Tôi vùng
dậy, nhoài mình phóng ra khỏi con
tàu, một ngọn sóng cuốn tôi ra
xa cùng lúc với một trái đạn
khác rớt ngay giữa thân tàu, con
tàu gẫy đôi và chìm xuống
biển. Tất cả sự kiện xảy ra
chưa đầy 1 tiếng đồng hồ, sau
khi tiếng kẻng buổi sáng trên đảo
vang lên.
Chung quanh tôi xác người
chết trôi vất vưởng khắp nơi,
những người còn sống sót thì
vẫn phải đang lặn hụp với từng
cơn sóng biển, và từ trong bờ
đảo những tên bộ đội Việt
cộng khát máu vẫn giương
súng nhắm bắn vào những người
sống sót, rất may là nhờ sóng
biển nhồi lên hụp xuống mà
cái đầu tôi trở thành một
mục tiêu khó bắn trúng của
những kẻ sát nhân, có người
đang cố gắng bơi ra xa khỏi tầm
đạn, nhưng nửa chừng thì
tôi bỗng thấy nằm bất động
trôi vật vờ trên biển, tôi
biết rằng họ đã trúng đạn
hoặc chết vì vết thương quá
nặng. Thủy triều đã lên cao, sóng
biển không còn đánh mạnh nữa,
và cũng chính vì vậy mà những
người sống sót khó tránh khỏi
tầm ngắm của lũ sát nhân. Tất
cả đã vĩnh viễn ra đi, tôi
cũng đã trôi ra xa khỏi tầm đạn
và đang nằm chơi vơi giữa đại
dương bao la, khung cảnh hoàn toàn
im lặng đến rợn người. Tôi
nhắm mắt lại cầu nguyện, nghĩ
đến gia đình đang còn ở lại
đất liền xa xôi, chỉ trong chốc
lát nữa thôi những con cá mập
sẽ kéo tới và tôi sẽ chết
vì bị cá mập ăn. Nghĩ tới
cá mập, tôi hoảng sợ mở mắt
ra. Và kìa, từ hướng xa tôi nhìn
thấy một chiếc thuyền câu đang
trôi về hướng tôi. Thoạt đầu,
tôi cứ tưởng bộ đội công
sản Việt Nam hạ quyết tâm đuổi
tận, giết tuyệt, nên không dám
bơi lại gần. Nhưng nhìn kỹ lại
thì tôi nhận ra trên chiếc thuyền
đó hoàn toàn im lặng, không có
một sự di động của bất cứ
người nào trên thuyền, tôi hơi
vững tâm và cố gắng bơi lại
gần thuyền. Nắm được be thuyền
và leo lên thì tôi trông thấy
có người trên thuyền, nhưng mọi
người đang nằm ở tư thế ẩn
nấp. Thấy tôi leo lên thuyền họ
bèn quay lại sụp lạy tôi và
xin tha mạng, tôi không có thời
giờ giải thích gì cả, bật ngửa
ra nằm bất động trên sàn tàu.
Sau khi đã hoàn hồn và hỏi
chuyện nhau thì tôi mới vỡ lẽ ra
họ cũng trôi dạt vào đây
và cũng bị bắn như chúng tôi.
Thuyền của họ xuất phát từ Phước
Tỉnh, Bà Rịa, trên tàu gồm
13 người gồm 11 người đàn ông
và 2 đứa trẻ, bé chị vào
khoảng 9 tuổi, bé em trai khoảng 6
tuổi. Ba của hai em bé này đã
bị bắn vỡ đầu nằm chết
ở phía mũi thuyền, một thanh niên
khác bị bắn nát mất phần vai
hai bên, hai cánh tay chỉ còn dính
liền bởi phần da còn lại trên
vai, đang nằm thôi thóp thở dưới
hầm máy, tình trạng cho thấy là
anh này sẽ khó thoát chết do
vết thương quá nặng. Trong khi con
thuyền đang trôi vật vờ như thế
thì cũng có được 4 người
khác từ chiếc tàu bị bắn chìm
trước đó thoát chết, leo lên
được con thuyền mà chúng tôi
đang có mặt. Như vậy là tổng
cộng số người thoát chết của
hai chiếc thuyền là 16 người, con
số trên 130 ngườiđã bị
bắn chết vùi thây dưới lòng
biển lạnh.

Sóng
lớn quá, có người rơi xuống
biển.
Con thuyền cứ
tiếp tục trôi vật vờ trên biển,
nhưng càng lúc càng rời xa khu vực
nguy hiểm, lúc này đã vào
khoảng 10 giờ sáng, nhìn sang bên
trái của con thuyền, chúng tôi nhìn
thấy một hòn đảo khác cách
chúng tôi không xa lắm. Nghĩa là
con thuyền của chúng tôi đang nằm
giữa vị trí của hai hòn đảo.
Hòn đảo này tôi đoán có
lẽ là hòn đảo mà chúng
tôi đã thấy thấp thoáng ánh
đèn từ đêm hôm trước,
đêm hôm bị bộ đội Việt
cộng tàn sát. Chúng tôi quyết
định phải rời xa hai hòn đảo
này càng sớm càng tốt nếu còn
muốn sống. (Đây là một quyết
định sai lầm mà chúng tôi
đã phải trả giá rất đắt,
sẽ được nói đến ở đoạn
sau) chúng tôi dùng mái chèo cố
gắng chèo con thuyền ra khơi, vì bình
xăng của con thuyền đã bị bắn
vỡ chảy hết dầu. Gió đã
đổi chiều, thổi con tàu tội
nghiệp của chúng tôi trôi vào
cõi vô định. Con thuyền này dài
chừng 6 thước, rộng gần 2 thước,
loại thuyền dùng để đi câu
ven bờ biển chứ không thể đi
xa hơn. Vậy mà nó cũng đã
chở 13 con người vượt được
hàng trăm hải lý để đến
nơi đây cùng chung số phận như
chúng tôi.
Chiều xuống dần,
không gian yên tĩnh, không có một
bóng dáng của bất cứ một con
tàu nào khác ngoài con thuyền của
chúng tôi lạc lõng giữa đại
dương. Tối đến, chúng tôi
phát giác ra một chuyện chết người
khác, con thuyền đang bị vô nước
từ phía dưới lườn tàu, thế
là chúng tôi tìm cách chặn
nước không cho tràn vào, và cử
người canh chừng để tát nước
liên tục. Cứ hai người cho mỗi
phiên trực tát nước, số phận
của 16 người sống sót trên con
thuyền này sẽ tùy thuộc vào
hai người có nhiệm vụ tát nước
ra khỏi tàu, nếu chẳng may họ buồn
ngủ, hoặc mệt quá mà chểnh mảng
thì con thuyền sẽ chìm và mọi
người cũng sẽ chìm theo con thuyền,
nhưng biết làm sao hơn đây! khi mà
tất cả mọi người ai cũng còn
mang nét mặt kinh hoàng vì mới vừa
phải trải qua một biến cố quá
đau thương và.... phó mặc mọi
việc cho Thượng Đế. Một đêm
kinh hoàng trôi qua, người sống phải
sống cùng xác chết trên một
diện tích vô cùng chật hẹp của
con thuyền, vấn đề vệ sinh chung đã
được đặt ra, là phải giải
quyết cái xác chết vẫn còn ở
trước mũi thuyền. Thật là tội
nghiệp cho hai đứa trẻ, chúng kêu
khóc thảm thiết không cho thủy táng
người cha thân yêu của mình.
Chúng tôi cũng đành phải chìu
lòng của hai em, nhưng sang đến ngày
thứ ba thì chúng tôi phải giấu
lén hai em mà thủy táng người
quá cố để bảo vệ sức
khỏe cho những người còn lại. Sau
này biết được hai em đã
lăn lộn khóc lóc vô cùng bi
thảm, chúng tôi chỉ còn biết
rớt nước mắt dỗ dành hai em.
Tình trạng của anh thanh niên bị
thương dưới hầm tàu đã
trở nên tồi tệ hơn vì không
có thuốc men chạy chữa, vết thương
đã thối rữa, biết là anh
cũng sẽ không qua khỏi, tối ngày
thứ ba, sau khi thủy táng người đàn
ông ba của hai đứa trẻ, chúng tôi
quyết định nấu cho anh chút cháo
trộn với đường cát như là
bữa ăn tối cuối cùng trước
khi ra đi, tôi là người đã
đút cháo cho anh ăn, suốt bữa ăn
anh cứ liên tục kêu cứu cầu sống,
tôi chỉ còn biết gạt lệ an ủi
với anh là cố gắng chút cháo,
rồi mọi người sẽ được
cứu sống. Sáng hôm sau, chúng tôi
thấy anh đã nhắm mắt lìa đời,
thân thể anh tái xanh vì đã
không còn máu. Chúng tôi cũng
đã thủy táng anh và cầu
nguyện cho linh hồn anh sớm được
siêu thoát.
Đã
hơn một tuần lễ lênh đênh
trên biển, có một điều thật
lạ lùng là chúng tôi không hề
nhìn thấy bất cứ một thương
thuyền nào qua lại vùng biển này
cả. Không lẽ chúng tôi đã
lạc vào một vùng biển chết?
Lương thực còn được mấy
kí gạo sau ngày bị bắn dùng để
nấu cháo cầm hơi cũng đã
hết, nước uống thì đã
hết từ trưa, cơn đói khát
đang đốt cháy ruột gan mọi người.
Một ngày đói khát đã bắt
đầu và sẽ còn tiếp tục
không biết kéo dài đến bao lâu.
Cầu nguyện, chỉ còn có biết
cầu nguyện thôi, tất cả mọi
việc đều đã được sắp
đặt và an bài do Thượng Đế,
con người đã trở thành vô
cùng nhỏ bé trước thiên nhiên,
vũ trụ.
Lại một ngày đói
khát nữa, cái khát làm cho da thịt
như muốn bốc khói, môi nứt nẻ,
đầu óc lúc nào cũng bị ám
ảnh bởi thức ăn, nước uống.
Tội nghiệp hai đứa trẻ, suốt
ngày chúng cứ nói đến miếng
ăn mà trước đây mẹ chúng
làm cho chúng ăn, hoặc thứ nước
uống mà chúng thích. Mọi người
như mê loạn đi vì đói và
khát. Dường như lời cầu nguyện
của chúng tôi đã thấu tới
trời xanh. Chiều hôm đó, trời
đổ cơn mưa, những hạt mưa
như những nước cam lồ trong chuyện
thần tiên, tưới mát thân thể
chúng tôi, chúng tôi say sưa ngửa
mặt lên trời hứng lấy nước
mưa mà uống, lấy thêm “can
nhựa” trên tàu hứng lấy nước
mưa dự trữ. Nhưng trời mưa lại
dẫn đến một vấn đề khác.
Thuyền ngập nước, thế là mọi
người xúm vào tát nước cho
thuyền khỏi chìm, rất may là cơn
mưa không kéo dài, và còn may
hơn nữa là từ đó cho đến
ngày được cứu, cứ vài ngày
lại có một cơn mưa ngắn giúp
chúng tôi có đủ nước uống.
Vấn đề nước uống đã
được giải quyết, nhưng còn
thức ăn? Chúng tôi đã không
còn được bất cứ một thứ
gì để có thể ăn được.
Cơn đói cứ dày vò, ám
ảnh chúng tôi liên tục, người
chúng tôi đã teo lại chỉ còn
lớp da bọc lấy xương, hay nói
cho đúng hơn là những bộ xương
biết bò, vì chúng tôi không
thể nào đứng vững được
nữa. Một hôm tôi bò xuống hầm
máy để cố gắng kiếm thử xem
còn gì có thể ăn được
không, tôi trông thấy một chai “
xá xị ” mới nhìn tôi cứ
tưởng đó là một chai đựng
dầu nhớt gì đó của mấy
người thợ máy bỏ quên, nhưng
tôi cứ cầm lên và ngửi thử.
Một mùi thơm ngào ngạt bốc
thẳng vào óc tôi, khứu giác
tôi dường như mở ra tối đa để
hít lấy mùi thơm đó. Mùi
thơm của mỡ heo, đúng vậy,
chai xá xị kia là một chai dùng để
đựng mỡ heo dành để chiên đồ
ăn của các ngư phủ. Tôi thọc
ngón tay vào miệng chai và đưa
lên miệng mút. Trời ạ! Thật
là một thứ cao lương mỹ vị
mà tôi chưa hề được thưởng
thức qua bao giờ, tôi cứ mút lấy
mút để cái thứ nước sền
sệt nhưng vô cùng tuyệt hảo
đó. Chợt nhớ lại những người
ở trên, đặc biệt là hai đứa
trẻ, tôi bò trở lên với chai xá
xị, không ai còn để ý đến
tôi vì mọi người đều đã
nằm liệt. Tôi bò đến hai đứa
trẻ, thò ngón tay tôi móc một
ít mỡ heo nhét vào miệng các
em, như là một liều thuốc tiên
các em bừng tỉnh lại, tôi ra
dấu cho các em cứ bình tĩnh mà
mút mỡ heo, nhắm chừng các em đã
dần dần có chút sinh lực trở
lại, tôi trút một ít mỡ heo vào
cái chén nhựa cho các em, còn lại
tôi dùng một chiếc đũa thọt
vào chai xá xị có mỡ heo và
kêu mọi người lại mút lấy
chiếc đũa thần kỳ diệu. Nhờ
có chai xá xị mỡ heo mà chúng
tôi có được một bữa tiệc
sang trọng nhất trong đời. Và cũng
nhờ chút mỡ heo tuyệt vời đó
mà em bé trai có chút sinh lực ngồi
nghịch phá cái máy radio nhỏ xíu
bất khiển dụng, cái radio bị vỡ
lòi ra mấy sợi dây kẽm nhỏ, một
bác lớn tuổi trên thuyền có
sáng kiến uốn mấy sợi kẽm nhỏ
đó thành những cái móc câu,
dùng cước cột các móc câu
đó lại, cạy các con ốc nhỏ
bám theo be thuyền làm mồi. Kết
quả thật bất ngờ khích lệ, buổi
đầu tiên bác câu được
hai con cá lớn độ bằng bàn
tay người lớn. Cái cột buồm vô
dụng được bác ấy chẻ ra từng
miếng nhỏ dùng để nhóm bếp.
Cũng may là trên thuyền còn có
được cái hộp quẹt còn sử
dụng được. Hai con cá được
bác nướng lên chia đều cho
mỗi người. Từ đó chúng tôi
được chia ra làm công việc chẻ
cột buồm để giữ lửa, bác ấy
làm công việc câu cá. Ngày nào
có được vài con cá thì
bác chia đều cho mỗi người được
một miếng bằng hai ngón tay, ngày nào
không câu được thì mọi người
nhịn đói uống nước mưa
cho qua cơn đói.
Chúng
tôi đã trôi trên biển 20 ngày
qua rồi, nhưng vẫn không nhìn thấy
bóng dáng của một chiếc thương
thuyền nào, mỗi khi chiều xuống tôi
thường bò lên trước mũi
thuyền nằm trông ngóng bóng dáng
một con thuyền. Nằm nhìn những con
chim hải âu săn mồi trên biển mà
lòng tôi tan nát, không ngờ rằng
cuộc đời của mình lại kết
thúc trong bi thảm như thế này. Sợ
nhất là mỗi khi chiều về, màn
đêm chuẩn bị buông xuống, chung
quanh là một màu tối đen, không
khí chết chóc cứ như lẩn quẩn
đâu đây. Hoặc những khi trời
nổi cơn giông, từng lượn
sóng cao như mái nhà bốc con thuyền
lên cao, rồi nhận con thuyền xuống đáy,
rồi lại bốc lên, cứ như thế
kéo dài hàng mấy giờ đồng
hồ liền khiến chúng tôi vô
cùng sợ hãi. Tình trạng cô đơn
giữa đại dương bao la kéo dài
cho đến tuần lễ thứ ba thì chúng
tôi nhìn thấy con tàu đầu tiên.
Thật là không còn gì để
diễn tả được nỗi vui mừng của
chúng tôi, chúng tôi reo mừng, reo la
cầu cứu, vì nghĩ rằng chắc chắn
là mình sẽ được cứu. Nhưng,
ô kìa ! Chiếc thương thuyền vẫn
lạnh lùng rẽ nước phăng phăng
chẳng buồn ngó đến chúng tôi,
mặc dù khoảng cách của đôi
bên quá gần, gần đến nỗi
chúng tôi có thể nhìn thấy
thủy thủ trên chiếc tàu buôn
đang tập trung trên bong tàu để
nhìn chúng tôi. Con tàu khuất dạng
ở chân trời, chúng tôi ngỡ
ngàng, hụt hẫng, sao lại có chuyện
lạ lùng như vậy ? Sao lại có
những người vô lương tâm
đến như vậy? Thấy người sắp
chết sao không cứu? Ngần ấy câu
hỏi cứ quay trong đầu tôi cho tôi
đến khi tôi lịm người đi vì
mệt mỏi và thất vọng.
Lại
có thêm bóng dáng một chiếc
tàu buôn từ đàng xa, như được
tăng thêm sức, tôi cùng vài
người khác vùng dậy trèo lên
mui ra dấu cầu cứu, và cũng như
chiếc tàu thứ nhất, họ lạnh
lùng bỏ đi mặc cho chúng tôi
kêu gào đến kiệt sức. Từ đó
trở đi, mỗi ngày chúng tôi nhìn
thấy hàng chục chiếc tàu buôn
qua lại trong vùng nhưng không một
chiếc nào chịu cứu vớt chúng
tôi. Thậm chí, có ngày chúng
tôi còn nhìn thấy hạm đội
của Mỹ đang thao dượt trên biển
với máy bay phản lực lên xuống
trên các chiến hạm. Từ dữ kiện
này, tôi đoán là chúng tôi
đang ở đâu đó trong vùng
vịnh Philipines. Chiều ngày thứ 30
trên biển, chúng tôi tuyệt vọng
trong mòn mỏi, không còn hơi sức
để kêu cứu nữa, mặc cho các
tàu buôn vẫn qua lại nhìn chúng
tôi sắp chết. Tôi nằm xoải
trên mui con thuyền đưa mắt hững hờ
nhìn chiếc tàu buôn mang hàng chữ
Nhật chở đầy những cây gỗ
với đường kính hai người ôm,
chiếc tàu buôn đó, cũng như
những chiếc khác trước đây,
cũng lạnh lùng băng qua trước
mặt chúng tôi mà đi thẳng, tôi
cũng chẳng buồn ngó theo làm chi vì
quá chán ngán với thế thái
nhân tình. Khoảng độ hai tiếng
đồng hồ sau, tôi đang nằm nhìn
mặt trời xuống dần thì bỗng giật
mình vì tiếng còi hụ ngân dài,
tiếng còi hụ giữa biển khơi nghe
vang dội, tôi nhổm mình dậy nhìn
thì trông thấy từ đàng xa chiếc
tàu buôn chở gỗ mà tôi nhìn
thấy từ chiều đang tiến về hướng
chúng tôi. Và..... Trời ạ !
Thủy thủ trên tàu đang nhộn
nhịp với dây thừng và phao cấp
cứu, và quan trọng hơn nữa là
nó đang giảm dần tốc độ để
lựa thế lại gần thuyền chúng tôi
mà tàu chúng tôi không bị lật
do sóng vỗ. Dùng thân tàu to lớn
như ngọn núi, chiếc tàu buôn
chận lại các ngọn sóng đang vỗ
về phía ghe chúng tôi như một bà
mẹ đang bảo vệ đứa con bé
bỏng của mình, các thủy thủ
đang cố gắng quăng các sợi dây
thừng sang phía chúng tôi. Họ đã
cứu chúng tôi, sau khi đã cột
được dây thừng vào thuyền
chúng tôi, họ đã kéo được
con thuyền cập sát hông chiếc tàu
buôn, chiếc thang dây được buông
xuống, chúng tôi từng người một
dưới sự phụ giúp của các
thủy thủ trên chiếc tàu buôn,
chúng tôi đã lần lượt lên
được chiếc tàu buôn an toàn.
Leo lên được bong tàu chúng tôi
ngã sóng soài xuống và nằm
im không cử động gì được
nữa, vì tất cả sinh lực còn
lại đã được dồn lại cho
việc leo lên chiếc tàu buôn to lớn
kia sau gần hai tiếng đồng hồ cố
gắng thực hiện.
Con thuyền nhỏ
bé tội nghiệp của chúng tôi
được kéo theo sau chiếc tàu buôn,
nhưng sau đó có lẽ vì lý
do an toàn đã được cắt bỏ,
nhìn chiếc thuyền bé nhỏ tội
nghiệp đã cưu mang chúng tôi một
tháng trời ròng rã trên biển
đang từ từ chìm xuống biển, chúng
tôi không hẹn mà ai cũng bật lên
tiếng khóc chào vĩnh biệt con thuyền.
Tối đến, chúng tôi được
cho uống nước mát ướp lạnh,
một loại nước uống thông dụng
của người Đại Hàn có pha
đường. Thật là một cảm giác
khó tả, khi cầm ly nước trong tay nhưng
chưa uống được vì quá vui
mừng vì đã được cứu
sống, tất cả xảy người sau khi ăn
xong bèn quay qua ói xối xả vì bội
thực. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi
được biết đây là một
chiếc tàu chở mướn của một
công ty hàng hải Nhật Bản với
thủy thủđoàn và Thuyền
Trưởng là người Đại Hàn,
chiếc thuyền đang trên đường
chở gỗ từ Pakistan về Okinawa, một hòn
đảo nằm về phía cực Nam nước
ra như trong một giấc mơ. Sáng hôm
sau chúng tôi được cho ăn cháo
loãng với nước tương (xì
dầu) chúng tôi ăn như chưa bao giờ
được ăn. Nhưng vì sợ chúng
tôi bị bội thực, thủy thủ trên
tàu đã không cho chúng tôi ăn
nhiều, vậy mà cũng có Nhật. Viên
Hoa Tiêu cho chúng tôi biết diễn biến
của sự việc như sau: Lúc chiều
(là lúc mà tôi nhìn thấy
chiếc thuyền) ông ta đã thấy con
thuyền của chúng tôi và đã
báo cáo lên Thuyền Trưởng xin
phép được tiếp cứu, nhưng
viên Thuyền Trưởng cho biết là
ông ta khôngđược phép
làm vậy, nếu không tất cả
nhân viên kể cả ông sẽ bị
mất việc và gặp rắc rối, vì
vậy mà chiếc tàu vẫn tiếp tục
hải trình như tôi đã thấy.
Tuy nhiên, viên hoa tiêu vẫn cứ tiếp
tục van nài Thuyền Trưởng với lý
do là sẵn sàng bị
mất việc, chứ thấy người
sắp chết mà không cứu là không
được. Hơn nữa,
theo tin tức khí tượng cho biết thì
tối nay bão sẽ kéo tới và
chắc chắn rằng con thuyền vượt
biên sẽbị nhận chìm xuống
biển. Viên Thuyền Trưởng đã
khóc và chấp nhận vớt
chúng tôi. Vị trí mà chiếc tàu
buôn đã cứu chúng tôi nằm
cách đảo Lữ Tống (Luzon) của
Philippines khoảng 60 cây số. Và nếu
chúng tôi có sống sót qua cơn
bão này thì chúng tôi sẽ trôi
ra tới Ấn Độ Dương, vì gió
đã đổi chiều và chúng tôi
sẽ khó có cơ hội được
cứu thoát vì đó không phải
là hải trình của tàu buôn.
Chúng
tôi cũng đã tường thuật lại
chuyến vượt biên kinh hoàng của
chúng tôi cho Thuyền Trưởng và
toàn thể thủy thủ trên tàu được
biết. Sau khi nghe chúng tôi tường
thuật, Thuyền Trưởng đã đánh
điện vào đất liền thông báo
cấp tốc, vì trước đó qua
tin tức ông cũng đã biết được
chuyến vượt biên kinh hoàng này
do những người sống sót trước
đó tường thuật lại. Số là
trong cái đêm kinh hoàng đó, khi
chúng tôi bị bộ đội Việt
cộng tàn sát dã man, thì có
8 người đàn ông nhìn thấy
có ánh đèn trên một hòn
đảo ở từ phía xa, cách nơi
chiếc thuyền bị nạn chừng vài
hải lý, nên thay vì ở lại chờ
chết, họ đã lặng lẽ dùng
các can nhựa có trên tàu để
bơi về phía hòn đảo có ánh
đèn đó để tìm sinh lộ.
Họ đã tìm đúng sinh lộ, vì
đó là hòn đảo thuộc chủ
quyền của Philippines. Họ được
cứu và đưa về đất liền
ngay đêm hôm đó. Đêm đó,
quân trú phòng trên đảo được
lệnh báo động và sẵn sàng
để cứu vớt các thuyền nhân
mắc nạn, họ cho biết là có nghe
tiếng súng nổ suốt đêm, và
súng pháo kích sáng hôm đó,
nhưng không thể làm gì khác
hơn được là đứng nhìn,
vì hòn đảo đang diễn ra cuộc
tàn sát thuộc chủ quyền của
Việt Nam. Tóm lại, trong khi chúng tôi
vẫn còn đang lênh đênh trên
biển đúng một tháng, thì đã
có 8 người trên chiếc “ghe ông
Cộ” đã được cứu thoát
do bơi sang đảo Phi.
Nhận được
tin từ vị Thuyền Trưởng, Bộ Nội
Vụ Nhật Bản đã đồng ý
cho chúng tôi cập bến Okinawa, Thuyền
Trưởng hoan hỷ loan báo tin này cho
chúng tôi biết và chúc mừng
chúng tôi thoát nạn. Ba ngày sau,
chúng tôi cập bến hải cảng
Okinawa. Người đầu tiên bước
lên tàu để đón chúng tôi
là một thông dịch viên tiếng
Nhật, anh tên là Nguyễn Gia Hùng,
một sinh viên du học tại Nhật Bản
trước năm 1975, hiện đang phụ giúp
với hội Caritas Nhật lo giúp đỡ
những thuyền nhân Việt Nam đang tị
nạn tại Nhật Bản. Chúng tôi đã
vô cùng xúc động vì nghĩ
mình đã được tái sinh lần
thứ hai. Chúng tôi bịn rịn bắt
tay từ giã các vị ân nhân
cứu mạng mình để lên đất
liền làm thủ tục tị nạn, những
người này cũng đã khóc
khi tiễn chúng tôi bước xuống
cầu tàu. Bước xuống tàu, chúng
tôi đã nhìn thấy một rừng
phóng viên báo chí, các hãng
thông tấn thế giới đang chờ sẵn
để lấy tin tức, một cuộc họp
báo đã được tổ chức
liền tại chỗ dưới sự hướng
dẫn và thông dịch của các anh
thuộc tổ chức Người Việt Tự
Do tại Nhật Bản. Sau đó chúng
tôi lên xe bus về trại tị nạn tại
quận Motobucho, một trại tị nạn dành
cho người Việt tị nạn được
coi là lớn nhất nước Nhật với
vỏn vẹn chừng 300 người Việt
hiện đang tạm trú để chờ các
quốc gia đệ tam nhận đi định
cư. Ngày hôm sau, tất cả các báo
chí, đài truyền hình Nhật Bản
đều cho chạy đi bản tin đầu
với hình ảnh và tin tức về
chuyến vượt biển kinh hoàng do
tội ác Việtcộng
gây nên, và 30 ngàyđói
khát lênh đênh trên mặt biển
của chúng tôi. Cầm trên tay tờ
báo, nhìn vào hình ảnh của
chính mình, tôi đã rúng
động không còn nhìn ra được
mình nữa, thay vào đó là một
bộ xương với hộp sọ nhô caolên. Đôi dòng lệ đã
âm thầm chảy xuống vì hạnh phúc.
Tôi biết mình đã thực sự
sống sót.
Chủ
nghĩa cộng sản đã là một
thảm họa của nhân loại.
Kể từ khi thứ chủ nghĩa này xuất
hiện trên thế giới, nó đã
giết chết không biết là bao nhiêu
nạn nhân vô tội. Cuộc vượt
biển tìm tự do đầy bi thảm và
kinh hoàng của tôi cũng chỉ là
một sự đóng góp vào kho tàng
tội ác của chủ nghĩa cộng sản.
Điều đáng quan
tâm là hiện nay đất nước và
dân tộc Việt Nam vẫn còn bị
chìm đắm dưới sự độc
tài, toàn trị của đảng Việt
cộng. Chỉ có một con đường
duy nhất là phải chấm dứt cái
chế độ man rợ này, không thể
nào nói chuyện hoà hợp hòa
giải với những con người với đầu
óc chai cứng vì đặc quyền,
đặc lợi, mà họ đang thụ
hưởng trên từng thân xác của
những con người Việt Nam bất
hạnh.
www.tamthucviet.com
February 18, 2008
nguoithongtin:Các em du sinh VN nên đọc câu chuyện này, để hiểu tại sao cộng đồng người Việt hải ngoại không chấp nhận sự xuất hiện của cờ đỏ sao vàng. Lá cờ máu đó không phải là quốc kỳ VN (cờ tổ quốc), nó chỉ làbiểu tượng của tập đoàn tham nhũng, bạo quyền Việt cộng độc tài. Đừng có dại dột nghe lời xúi giục của bọn truyền thông tay sai Vc nằm vùng, mang cờ Vc đi biểu tình ….Làm như vậy là khiêukhích, chọc tức cộng đồng Việt hải ngoại, cựu chiến binh Mỹ và thân nhân của 58,000 tử sĩ Hoa Kỳ. Cố gắng lo học và bảo trọng.